









|
|
AN
DƯƠNG VƯƠNG THỤC PHÁN LÀ ÔNG TỔ HỌ LÊ
Theo sách Lễ hội và Danh nhân Lịch sử Việt Nam của tác giả Hà Tùng Tiến (nhà
xuất bản Văn hóa Thông tin Hà Nội 1997)
Kể từ lúc Hồng Bàng dựng nước, truyền 108 vị vua kể cả Phù Đổng, Tản Viên và
18 vị vua Hùng, đến đời Hùng Vương thứ 18 là Hùng Duệ Vương tên húy là Duệ
Lang (Huệ Lang) hạ sinh 22 Hoàng nam, 24 Hoàng nữ, thời kỳ đầu rất thông
minh chính trực, nhưng từ khi lấy một người họ Lê là cô ruột của Thục Phán,
Hùng Huệ Vương lại đam mê tửu sắc, bị Thục Vương và Cao Lỗ lừa phục rượu, để
cô của Thục Phán sai giết hết tất cả con trai, con gái, dâu rể.
Cơ đồ nhà Hùng đang văn minh rực rỡ bỗng chốc rơi vào tay
Thục Phán, năm 258 trước Công Nguyên Thục Phán lên ngôi xưng là AN DƯƠNG
VƯƠNG, bỏ quốc hiệu Văn Lang đổi tên nước là Âu Lạc, đóng đô ở Đông Kinh,
xây thành Cổ Loa. Thục Phán mất năm 179 trước Công nguyên, làm vua được 30
năm.
Thục Phán An Dương Vương là người dòng họ Lê ở Mỹ Đức, con cháu dòng Lê đại
tộc bắt nguồn từ đây, trải qua 2.230 năm hình thành và phát triển đất nước,
từ năm 258 BC đến nay dòng họ Lê đã cống hiến không biết bao nhiêu xương máu
cho Tổ quốc, nổi bật là hai Triều đại Tiền Lê và Hậu Lê. Đó là niềm tự hào
cho tất cả những ai được mang dòng máu họ Lê, Để nhớ mãi: Cội nguồn của
chúng ta THỤC PHÁN AN DƯƠNG VƯƠNG là ông Tổ của dòng LÊ ĐẠI TỘC.
LÊ ĐẠI
HÀNH
Lê Hoàn sinh năm Tân Sửu 941 ở Ái Châu Thanh Hoá, dưới triều Đinh Tiên Hoàng
ông giữ chức Thập Đạo Tướng quân, tháng 7 năm Canh Thìn 980 được Triều thần
tôn lên ngôi thay cho Đinh Tòan còn quá nhỏ tuổi, lập nên Triều đại Tiền Lê,
nhà vua mất tháng 3 năm Ất Tỵ 1005, ở ngôi 25 năm, triều Tiền Lê tồn tại 29
năm truyền qua ba đời vua.
LÊ THÁI
TỔ
Lê Lợi là hậu duệ của vua Lê Đại Hành, sinh vào giờ tý ngày mồng 6 thàng 8
năm Ất Sửu (10-9-1385) tại quê mẹ làng Chủ Sơn (Thủy Chú) huyện Lôi Dương,
tỉnh Thanh Hóa, ngài là con trai út của Hào trưởng Lê Khóan, người làng Lam
Sơn, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa.
Đau lòng trước cảnh nước mất nhà tan, sau khi nhà Minh
Trung quốc diệt nhà Hồ năm 1407. Lê Lợi nuôi chí lớn phục thù cứu nước, năm
1416 Lê Lợi cùng 18 người bạn thân tín, cắt máu ăn thề tại khu rừng Lũng Nhai,
lấy vùng rừng núi Lam Sơn làm căn cứ kháng chiến, sau 10 năm xây dựng Lê Lợi
xưng là Bình Định Vương, tiến quân ra Bắc, với trận đánh lịch sử chém đầu
tướng giặc là Liễu Thăng trên ải Chi
Lăng năm 1427, quân ta toàn thắng.
Ngày 14 tháng 4 năm 1428 Bình Định Vương Lê Lợi lên ngôi,
hiệu là Thái Tổ Cao Hoàng Đế còn gọi là Lê Thái Tổ, đặt tên nước là Đại Việt,
lập ra nhà Hậu Lê, truyền nối 27 đời vua, trị vì tổng cọng 360 năm, từ 1428
đến 1788
|